14/12/2019
CÁCH ĐỂ KHÁCH HÀNG NHẬN BIẾT MỘT PHÒNG KHÁM LÀM CHỈNH NHA INVISALIGN TỐT
KỲ 4 – PHÂN TÍCH PHIM XQUANG CHỈNH NHA CHI TIẾT HẦU NHƯ CÁC PHÒNG KHÁM BỎ QUA HOẶC NHỜ TRUNG TÂM CHỤP XQUANG PHÂN TÍCH HỘ
Phân tích phim xquang chỉnh nha là cực kỳ quan trọng và đã có từ lâu, trước đây vẽ phim chỉnh nha (phim Ceph) được vẽ bằng bút chì kim và giấy vẽ phim acetate trên đèn đọc phim, ngày nay nhờ có kỹ thuật số nên vẽ phim bằng các phần mềm trên máy tính sau khi xác định các điểm mốc trên phim bạn sẽ được rất nhiều bộ chỉ số khác nhau, việc lựa chọn bộ chỉ số nào cho từng bệnh nhân và lấy chỉ số nào là do kinh nghiệm của từng bác sỹ và tùy thuộc vào từng bệnh nhân, việc này đánh giá chỉ số trên phim phụ thuộc trình độ của bác sỹ, chất lượng phim chụp và kỹ năng vẽ phim trên máy tính của bác sỹ. Các chỉ số rất quan trọng trong vấn đề giúp lựa chọn lên kế hoạch toàn bộ quá trình chỉnh nha.
Các chỉ số của phim đo đạc được sẽ biết chính xác chúng ta cần lên kế hoạch chỉnh nha điều chỉnh các chỉ số đo như thế nào, điều chỉnh bao nhiêu là đủ bằng các số đo chính xác, hô đó là do xương hay do răng hay do cả hai, hoặc với các trẻ đang phát triển dựa vào một số chỉ số để dự kiến trong tương lai phát triển của khớp cắn và sọ mặt như thế nào. Tuy nhiên hầu như tất cả các phòng khám chỉnh nha ở Việt Nam bỏ qua việc này chỉ nhìn phim và ước lượng trên phim, do BS lười không chịu vẽ phim và nếu vẽ trên phần mềm thì do không chịu mua phần mềm và không đủ kỹ năng để vẽ phim trên phần mềm, cũng như kiến thức hạn chế để sử dụng các chỉ số từ phim xquang đem lại. Nếu các trung tâm xquang vẽ phim cho phòng khám, thì trình độ vẽ phim của các trung tâm xquang bị hạn chế, nếu họ vẽ sai BS không chỉnh được và họ chỉ gửi cho 2 bộ chỉ số Steiner và Tweed, BS không thể xem lựa chọn theo ý của mình như trên phần mềm phân tích phim.
Có hàng trăm chỉ số khác nhau, mỗi bệnh nhân sẽ chọn một số chỉ số quan trọng và cần thiết cụ thể cho từng bệnh nhân. Ví dụ:
1, Trên phân tích Steiner (1953):
a, Xem các chỉ số về xương SNA: hô-móm xương hàm trên hay không, mức độ hô-móm cụ thể là bao nhiêu độ? SNB: Hô - móm xương hàm dưới hay không, mức độ hô-móm cụ thể là bao nhiêu độ? ANB tương quan của xương hàm trên và hàm dưới với mức độ hô móm? Chỉ số Wits khoảng cách điểm A và B trên mặt phẳng AP của khớp cắn,…
b, Các chỉ số về răng: Góc liên răng cửa đánh giá mức độ tương quan giữa răng cửa trên dưới, góc trục răng cửa hàm trên và đường NA, góc trục răng cửa hàm dưới và đường NB, góc giữa trục răng cửa hàm dưới và mặt phẳng GoGn của hàm dưới để biết răng cửa hàm dưới có đổ quá hay dựng quá không? Độ cắn phủ, độ cắn chìa,...
2, Phân tích Tweed (1954):
Ông xây dựng “tam giác mặt chẩn đoán” dựa vào 3 góc để tiên lượng phát triển của xương hàm bệnh nhân. Góc FMA biết mặt phát triển theo chiều ngang hay chiều dọc. Góc IMPA biết độ nghiêng trước của răng cửa hàm dưới. Góc FMIA để cân bằng và hài hòa tầng mặt dưới với giới hạn của răng cửa.
3, Phân tích Wits (1975):
Đáng giá vị trí điểm A và B với mặt phẳng khớp cắn trước sau. Đánh giá tương quan xương hai hàm bởi vị trí điểm A và B.
4, Phân tích Bergen: Đánh giá đường thẩm mỹ S, trục răng cửa hàm dưới, trục răng cửa hàm trên, góc liên răng cửa,…
5, Phân tích Legan: Đánh giá góc mũi môi, độ sâu của rãnh môi cằm, góc mặt dưới – cằm cổ,...
Ngoài ra còn các phân tích như: Down, Sasouni, Harvold, Ricketts, Jaraback, McNamara, BCOGS,…
Các chỉ số cụ thể kết hợp với phân tích mẫu hàm, phân tích ảnh chụp bên ngoài, bác sỹ khám trên bệnh nhân sẽ quyết định việc điều chỉnh các thông số của răng trong chỉnh nha, bác sỹ có các quyết định giải quyết được hoặc cải thiện được hoàn toàn hay đưa đến mức giới hạn có thể đạt được của từng bệnh nhân do giới hạn từ chỉ số phân tích được quyết định.
Các trường hợp cụ thể sẽ có các bài phân tích sâu chi tiết một số trường hợp.