02/03/2025
⭕⭕ ĐIỀU TRỊ MÁNG NHAI VỚI KẾT QUẢ TIÊN LIỆU ĐƯỢC
Điều trị máng nhai có thể là nguyên nhân chính gây đau đầu cho nhiều bác sĩ nha khoa. Câu hỏi thường giống nhau: Làm thế nào mà một thứ tưởng chừng rất đơn giản lại có thể trở nên khó khăn và không thể dự đoán được? Nhầm lẫn xoay quanh việc nên chỉ định khí cụ nào là thích hợp: máng bảo vệ, máng kiểm tra, hay chỉ là giải pháp chữa cháy khi bác sĩ không biết phải làm gì để điều trị cho bệnh nhân. Câu hỏi luôn được đặt ra là thiết kế và chế tác máng nhai như thế nào, và rồi sự thoải mái và hợp tác của bệnh nhân phải được xem xét đến. Đặc biệt, thời gian điều trị và mục đích điều trị của máng nhai chưa rõ ràng, gây nhầm lẫn và loại điều trị này đã làm các bác sĩ trở nên sợ hãi. Bác sĩ Peter E. Dawson quá cố, người sáng lập Học viện Dawson, cho biết, "Mặc dù nổi tiếng là phương pháp điều trị phổ biến nhất đối với chứng đau mặt miệng liên quan đến rối loạn khớp thái dương hàm (TMJ), nhưng máng nhai vẫn được xem là một 'bí ẩn điều trị mà không ai thực sự hiểu. "
Thực tế là những máng nhai chỉ định đúng sẽ mang lại hiệu quả. Một máng được thực hiện đúng có thể giảm tiếng kêu khớp thái dương hàm, giảm đau khớp, đau cơ, đồng thời cải thiện biên độ vận động. Tuy nhiên, máng cũng có thể làm cho tình trạng của bệnh nhân trở nên tồi tệ hơn nếu chỉ định sai hoặc thiết kế máng không đúng. Ví dụ, một trong những loại máng được chỉ định phổ biến nhất là khí cụ xóa ký ức cơ (anterior deprogramming devices) có thể làm trầm trọng thêm vấn đề ở khớp ở những bệnh nhân đang có vấn đề nội khớp, đặc biệt ở bệnh nhân có trật đĩa cực trong, do làm trần trọng tình trạng phá hủy đang xảy ra bên trong khớp.
Để chỉ định máng chính xác, bác sĩ phải tiến hành khám một cách toàn diện, bao gồm những vấn đề sau 3-5:
1. Tiền sử y khoa và nha khoa (tập trung vào bệnh sử khớp, cơ và khớp cắn)
2. Đánh giá và sờ nắn các cơ nhai 6
3. Đánh giá biên độ vận động
4. Thử nghiệm tải lực ở tương quan trung tâm.
5. Siêu âm khớp.
6. Đánh giá mòn răng, răng lung lay và dịch chuyển
7. Chụp CBCT hoặc MRI (nếu xét thấy cần thiết về mặt lâm sàng và có liên quan)
Việc khám đánh giá này sẽ giúp bác sĩ chẩn đoán phân biệt vấn đề cơ hay khớp. Với khớp thái dương hàm, khám toàn diện sẽ đưa bác sĩ lâm sàng đến ba chẩn đoán có thể gặp:
1. Vấn đề nội khớp. Trong trường hợp này, đĩa không còn ở vị trí đúng. Khi đĩa khớp bị trật ở cực ngoài hay bán phần ngoài, nó thường gây ra tiếng cắc cụp (cliking or popping) của khớp. Khi đĩa bị trật ở cực trong hay bán phần của đầu lồi cầu, bệnh nhân thường bị đau khu trú ở khớp khá đặc trưng, bởi vì khi đĩa trật ra trước, mô sau đĩa là mô duy nhất có mạch máu thần kinh nằm trong khớp thái dương hàm, bị kéo lên trên đầu lồi cầu, dẫn đến bị nén ép dưới áp lực nhai.
2. Vấn đề cơ - khớp cắn. Trong trường hợp này, vấn đề chính của bệnh nhân nằm ở các cơ nhai. Điều này thường do sự thiếu phối hợp đồng bộ giữa các cơ với nhau, nguyên nhân từ sự bất hài hòa khớp cắn của bệnh nhân. Sự khác biệt giữa lồng múi tối đa với tương quan trung tâm khi các cơ co ở mỗi lần nhai hoặc cắn, hoặc các răng ăn khớp nhau khi nuốt, các cơ nhai luôn cố gắng đưa lồi cầu về vị trí tương quan trung tâm. Nếu răng và cơ không cùng thực hiện điều này sẽ tạo ra khác biệt giữa cơ và răng trong lúc thực hiện các vận động chức năng, dẫn đến sự bất hài hòa trong hoạt động của các cơ nhai. Ở một số cơ nhất định, chẳng hạn như cơ thái dương trước, là cơ tái định vị, hoặc cơ chân bướm ngoài, chúng trở nên quá tải và / hoặc bị viêm, axit lactic có thể tích tụ trong cơ, dẫn đến đau nhức đáng kể.
3. Các vấn đề khác. Đau dây thần kinh sinh ba, vấn đề bệnh toàn thân, bệnh lý khác và các vấn đề tâm lý ít gặp hơn, có thể cần sự phối hợp của bác sỹ y khoa để điều trị cho bệnh nhân trước khi điều trị máng nhai.
Lộ trình chẩn đoán phải đi theo hướng khám toàn diện, dẫn đến chẩn đoán phân biệt. Chẩn đoán sau đó sẽ đưa ra phương pháp điều trị máng nhai phù hợp. Kết quả của điều trị máng nhai sẽ đưa đến một kế hoạch điều trị can thiệp phục hồi khớp cắn. Điều trị máng nhai là khởi đầu điều trị cho hầu hết bệnh nhân - không phải là kết thúc. Đây là một phần của kế hoạch điều trị chứ không phải là "kế hoạch" điều trị. Làm cho bệnh nhân phụ thuộc vào một mảnh nhựa không bao giờ nên là mục tiêu.
Điều trị: Máng nhai được chia thành hai loại cơ bản sau: máng thư giãn và máng định vị. Máng thư giãn cho phép hàm dưới chuyển động không hạn chế và hầu hết các phương pháp điều trị máng nhai đều thuộc loại này. Máng định vị sẽ đưa hàm dưới vào vị trí xác định trước. Những loại máng nhai này nên được sử dụng hết sức thận trọng và có thời gian giới hạn. Thay đổi khớp cắn vĩnh viễn có thể xảy ra khi sử dụng liệu pháp máng định vị không đúng cách. Một ví dụ về máng định vị là máng định vị hàm dưới ra trước so với vị trí lồng múi tối đa. Bài viết này tập trung vào máng thư giãn.
Điều trị các vấn đề nội khớp: Máng nhai chính để điều trị vấn đề nội khớp là loại máng tái định vị lên trên (SRS), còn gọi là máng tương quan trung tâm (Hình 1). Đây là loại máng thư giãn che phủ toàn bộ răng, có thể thực hiện ở hàm trên hoặc hàm dưới. Mục tiêu của khí cụ này là đạt được năm yêu cầu về sự ổn định khớp và có thể hoàn nguyên. Những yêu cầu đó, được Dawson mô tả như sau:
1. Những điểm chặn giữ ổn định hàm dưới ở tương quan trung tâm trên mỗi răng. (Trong trường hợp dùng máng SRS, các điểm này sẽ càng gần với tương quan trung tâm càng tốt. Mục tiêu của liệu pháp SRS là tạo ra khớp TDH có khả năng tải lực hoàn toàn bằng thao tác hai tay mà không bị căng hoặc đau)
2. Hướng dẫn trước hài hòa với hình bao vận động chức năng.
3. Nhả khớp tức thì các răng sau trong vận động ra trước
4. Nhả khớp lập tức bên thăng bằng trong vận động sang bên
5. Nhả khớp tất cả các răng bên làm việc với hướng dẫn phía trước.
Dawson cho biết: "Tương quan trung tâm là vị trí lồi cầu duy nhất cho phép khớp cắn không có cản trở." Tương quan trung tâm là khi phức hợp lồi cầu đĩa khớp ở vị trí cao nhất và được định vị ở vị trí trục trong hõm khớp. Ở vị trí này, tâm tải lực nằm ở cực trong lồi cầu.
Còn tiếp....
(Nguồn: Bản tin nha khoa liên ngành - Tập 3)